THÀNH PHẦN CÔNG THỨC THUỐC:
Công thức cho 1 lọ thuốc bột pha tiêm:
Cefotiam …………………………………………………. 0,5 g
(Dưới dạng hỗn hợp bột vô khuẩn trộn sẵn Cefotiam hydroclorid và Natri carbonat)
DẠNG BÀO CHẾ:
Thuốc bột pha tiêm: Bột màu trắng đến vàng nhạt.
CHỈ ĐỊNH:
-
Nhiễm khuẩn máu, nhiễm khuẩn dưới da, nhọt độc dưới da do nhiễm khuẩn và sinh mủ.
-
Nhiễm khuẩn thứ phát như chấn thương, bỏng, các vết thương phẫu thuật,…
-
Viêm tủy xương, viêm khớp nhiễm khuẩn.
-
Viêm Amidan (bao gồm viêm phúc mạc, áp xe trong khoang phúc mạc).
-
Viêm phế quản cấp, viêm phổi, áp xe phổi, mủ màng phổi, nhiễm khuẩn thứ cấp hư tổn thương đường hô hấp trên.
-
Viêm bàng quang, viêm bể thận, viêm tuyến tiền liệt (cấp tính/mạn tính).
-
Viêm phúc mạc, viêm túi mật, viêm đường mật.
-
Viêm tuyến Bartholin, nhiễm trùng tử cung, viêm phần phụ tử cung, viêm cổ tử cung.
-
Viêm màng não mủ, viêm tai giữa, viêm xoang.
Khi sử dụng cho viêm amidan (bao gồm viêm phúc mạc và áp xe phúc mạc), viêm phế quản cấp tính, đờm tai giữa và viêm xoang, hãy tham khảo “Hướng dẫn sử dụng thuốc kháng sinh đúng cách” để xác định nhu cầu và chỉ định sử dụng thuốc, hoặc xác định nên sử dụng thuốc nào thay thế chỉ định thích hợp.
Về nguyên tắc, khi sử dụng thuốc này, phải xác nhận tính nhạy cảm để ngăn chặn sự xuất hiện của vi khuẩn kháng thuốc,… rồi tiếp tục dùng thuốc theo chỉ định trong khoảng thời gian tối thiểu cần thiết cho việc điều trị bệnh.
CÁCH DÙNG, LIỀU DÙNG:
Liều dùng:
-
Người lớn: Liều thông thường là 0,5 đến 2 g/ngày, chia làm 2 đến 4 liều (cách nhau 6 đến 12 tiếng). Trong nhiễm khuẩn nặng có thể tăng liều dùng lên 4 g/ngày.
-
Trẻ em: Liều thông thường là 40 – 80 mg/kg thể trọng/ngày, chia làm 3 – 4 liều (cách nhau 6 – 8 tiếng). Trong trường hợp nhiễm nặng như viêm màng não, viêm màng não mủ, tăng liều lên 160 mg/kg thể trọng/ngày.
-
Liều dùng có thể được điều chỉnh theo độ tuổi và triệu chứng.
-
Bệnh nhân suy thận nặng: thận trọng khi điều chỉnh liều lượng và khoảng cách giữa các lần sử dụng thuốc cho phù hợp.
Đường dùng:
Tiêm tĩnh mạch, chỉ tiêm bắp khi không tiêm được tĩnh mạch
CHỐNG CHỈ ĐỊNH:
-
Bệnh nhân có tiền sử mẫn cảm với bất kỳ thành phần nào của thuốc.
-
Bệnh nhân có tiền sử mẫn cảm với kháng sinh nhóm Cephalosporin (về nguyên tắc, không dùng cho những bệnh nhân này, nhưng nên thận trọng khi dùng nếu đặc biệt cần thiết).
CẢNH BÁO VÀ THẬN TRỌNG KHI DÙNG THUỐC:
Cần thận trọng khi sử dụng thuốc cho các bệnh nhân sau:
-
Bệnh nhân có tiền sử mẫn cảm với kháng sinh Penicillin.
-
Bệnh nhân có người thân là cha mẹ hoặc anh chị em bị các triệu chứng dị ứng như hen phế quản, mề đay.
-
Bệnh nhân suy thận nặng.
Người cao tuổi: cần thận trọng khi sử dụng thuốc này và cần quan sát tình trạng của bệnh nhân, cũng như cần chú ý đến liều lượng và khoảng thời gian dùng thuốc. Các tác dụng phụ có thể xảy ra ở người cao tuổi, người thường bị suy giảm chức năng sinh lý. Hiện tượng xuất huyết do thiếu vitamin K cũng có thể xảy ra ở đối tượng này.
Bệnh nhân có tình trạng dinh dưỡng kém, bệnh nhân hấp thu dinh dưỡng không qua đường miệng (ví dụ chế độ ăn uống qua ống thông tĩnh mạch), nên thận trọng vì có thể xảy ra thiếu vitamin K.
Vì không có phương pháp đáng tin cậy nào để dự đoán xảy ra shock hoặc shock phản vệ do thuốc, nên cần thực hiện các biện pháp sau:
-
Nên tiến hành test thử trước khi tiêm thuốc.
-
Đảm bảo chuẩn bị sẵn sàng các biện pháp sơ cứu chống shock thuốc, v.v… trước khi sử dụng.
-
Bệnh nhân nên được giữ ở trạng thái nghỉ ngơi khi bắt đầu dùng thuốc cho đến khi kết thúc dùng thuốc và cần được theo dõi cẩn thận. Đặc biệt, bệnh nhân cần được theo dõi cẩn thận trong ít nhất 30 phút sau khi bắt đầu dùng thuốc.
Trẻ em: Sự an toàn liên quan đến chỉ định cho trẻ sơ sinh hoặc trẻ sơ sinh chưa được xác định.
Ảnh hưởng kết quả xét nghiệm lâm sàng:
-
Lưu ý rằng nếu xét nghiệm glucose trong nước tiểu bằng thuốc thử Benedict và thuốc thử Fehling, người ta phản ứng dương tính giả.
-
Lưu ý rằng nếu xét nghiệm Coombs trực tiếp cho kết quả dương tính.
Nên thực hiện kiểm tra định kỳ chức năng gan, thận, máu… khi sử dụng thuốc này.
SỬ DỤNG THUỐC CHO PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ CHO CON BÚ:
Phụ nữ mang thai hoặc phụ nữ có thể mang thai chỉ nên dùng thuốc nếu lợi ích điều trị được đánh giá là cao hơn so với các nguy cơ mà thuốc có thể gây ra.
(Sự an toàn liên quan đến chỉ định cho phụ nữ trong thời kỳ mang thai chưa được xác định).

